Chương XIII
Không thể nghĩ bàn
5 thuộc tính của trí tuệ hoàn hảo
Subhuti: trí tuệ hoàn hảo thật khó nghĩ bàn.
Trí tuệ hoàn hảo đã làm được một việc lớn khi được chỉ rõ và
tiết lộ qua một vòng xoáy cực kỳ hoàn hảo của sự biết và nhận
biết. Những sự như vậy được biết đến như là không thể nghĩ bàn,
không thể so sánh, không thể tính toán…như việc ngang bằng với vô
thượng
Phật: Đúng như vây, Subhuti. Vì sao mà việc này
là một công việc không thể nghĩ bàn? Vì Phật quả là không thể nghĩ
bàn, tự tồn tại, tự phát (spontaneous self-existence), trong mọi thời
gian thì vắng lặng, không có tự thể hay khái niệm nào cả, đúng như
trạng thái của toàn giác, nhưng vẫn được tiết lộ là như vậy. Những
vị như vậy không thể suy nghĩ dùng suy nghĩ của mình, vì không có
đối tượng nào của suy nghĩ, hay ý muốn, hay bất kỳ pháp nào bao gồm
suy nghĩ. Vì sao lại là công việc không thể so sánh được? Không thể
nghĩ về quả Phật, vv, không thể so sánh như vậy. Vì sao không thể đo
lường? Phật quả, vv thì không thể đo lường. Vì sao không thể tính
toán? Phật quả, vv thì không thể tính toán. Vì sao lại là việc ngang
bằng với việc không thể ngang bằng? Vì không ai có thể bằng được
Phật, như là người khai sáng, tự tồn tại, biết tất cả, vậy có ai
có thể ngang bằng với sự hỷ xả hoàn toàn không?
Subhuti: Vậy 5 thuộc tính này có đúng với các
uẩn cũng như các pháp không, hay chỉ đúng với Phật quả?
Phật: Những điều này đúng với các pháp, các
uẩn cũng vậy. Tất cả các pháp và các uẩn thì không thể nghĩ bàn.
Khi các uẩn xem (regard) hay hiện ra liên quan đến (in relation to) bản
tính cốt yếu tự nhiên, đây không phải là suy nghĩ hay ý muốn, hay
cũng không phải là pháp bao gồm những suy nghĩ, hay sự so sánh. Bởi
vì lý do này và như lý do này, các uẩn và pháp đều không thể nghĩ
bàn và không thể so sánh. Chúng cũng không thể tính đoán được, bởi
vì không thể nghĩ ra cách đo lường bất cứ hay tất cả các ngũ uẩn,
vì cách đo lường như vậy không tự tồn tại như là kết quả của sự vô
tận. Tất cả chúng đều không thể đo lường, vì vượt trên khả năng tính
đoán, chúng ngang bằng với những gì không thể ngang bằng, vì tất cả
các pháp đều như không gian, vậy Subhuti, ông có nghĩ có tồn tại
(giống không gian) sự giống nhau, hay đếm, đo lường, so sánh, suy nghĩ,
hay bất cứ pháp nào mà bao gồm suy nghĩ không?
Subhuti: Không thưa Ngài
Phật: Cũng giống như vậy Pháp thì không thể
nghĩ bàn, không thể so sánh, không thể đo lường, tính toán, ngang bằng
với không (no-thing), ngay cả đối với cái không thể ngang bằng…như Phật
pháp. Phật pháp thì không thể nghĩ bàn vì tất cả suy nghĩ đều là
không, không thể so sánh được vì chúng vượt trên sự so sánh. Những từ
như không thể nghĩ bàn, “không thể so sánh” chỉ ra bất cứ và tất cả
những đối tượng là sự nhận thức, cũng như “không thể tính đoán”,
“ngang bằng với những gì không ngang bằng được”. Tất cả những sự
tính toán, giống nhau đều là không, vì Phật pháp thì không thể đo
lường, tính toán, ngang bằng với những gì không ngang bằng được. Đây
là không thể đo lường, tính toán, ngang bằng với những gì không ngang
bằng được giống như không gian không thể đo lường, tính toán. Pháp thì
không thể so sánh được trong bất cứ nghĩa nào, không gian cũng vậy.
Pháp không thể được đặt cạnh nhau, vì chúng không thể được so sánh
với nhau. Pháp thì không thể nghĩ bàn, không thể so sánh, không thể đo
lường, tính toán, không ngang bằng với gì cả theo nghĩa này, cũng như
không gian cũng vậy
Sự tái sinh của tâm linh có được nhờ trí tuệ này.
Giống như bất cứ giáo lý nào không thể nghĩ bàn được…được
giảng giải, thì tâm của hàng trăm vị tăng được chín muồi và không
còn lậu, không còn bám víu, tâm của 2000 ni cũng có được sự chín
muồi (4 lậu là dục, trở thành, vô minh, tà kiến). 6000 Ưu bà tắc,
3000 Ưu bà di cũng đạt được sự thuần khiết, vô tư vị, vô cấu của
pháp nhãn. 20000 Bồ Tát cũng đạt được sự chấp nhận kiên trì (patient
acceptance) của pháp vốn không được sản sinh. Phật cũng thọ ký cho họ
đạt Bodhi trong thời kỳ Bhadrakalpa (kiếp có 1000 Phật xuất hiện).
Những thiện nam thiện nữ tại gia, được pháp nhãn thanh tịnh, cũng
được Phật dự đoán là sẽ được tự do, không còn bị ràng buộc bởi
các lậu.
Không có gì để nắm lấy
Subhuti: Trí tuệ hoàn hảo, thưa Ngài,
thật là không thể nghĩ bàn. Trí tuệ hoàn hảo đi trên con đường vĩ
đại
Phật: Đúng vậy, Subhuti. Tất cả kiến thức đều
được ủy thác cho Trí tuệ hoàn hảo, và những quả vị Thanh Văn, Duyên
Giác cũng vậy. Vị vua được phù hộ, tự thấy quốc gia của mình mạnh
mẽ và an toàn thì ủy thác mọi công việc của vương quốc hay thành
phố cho quần thần, và tự ông thì được tự tại và không bị gánh
nặng. Cũng như vậy, tất cả các pháp của Phật, Thanh Văn, Duyên Giác
đều được ủy thác cho Trí tuệ hoàn hảo. Chính Trí tuệ hoàn hảo làm
việc qua những người này. Chính bằng cách này mà Trí tuệ hoàn hảo
đi trên con đường vĩ đại, ví dụ như ta không thể nắm bắt 5 uẩn, hay
trụ tại đó, cũng không trụ tại các Thánh quả, từ Dự Lưu cho đến
toàn giác.
Subhuti: Vậy Trí tuệ hoàn hảo được thiết
lập như thế nào để mà người này không nắm bắt lấy sự toàn giác,
cũng không trụ tại đây?
Phật: Vậy chúng ta có xem quả A la hán như là
một pháp thực nào mà ta có thể nắm lấy hay trụ lại không?
Subhuti: Không thưa Ngài
Phật: Cũng như vậy, Subhuti. Ta không xem quả vị
Phật này như là thật, không nắm lấy và trụ tại nó. Vì sự toàn
giác cũng là một trạng thái mà ta không thể nắm lấy bất cứ gì, hay
trụ tại bất cứ thứ gì
Subhuti: Bồ Tát mới bước đi trên thừa và căn
lành còn ít thì hãy cẩn thận đừng run sợ trước điều vừa nói này.
Mặt khác, nếu Bồ tát tin tưởng tuyệt đối vào điều này thì đã là
thích hợp cho Phật vị, đã hoàn thành công việc của Jinas ở bất kỳ
thời gian nào, và đã liên tục trồng căn lành.
Phật: Đúng vậy, Subhuti
Phản ứng của chư thiên
Lúc này, chư thiên cõi dục giới và sắc giới
nói với Phật: Trí tuệ hoàn hảo thật khó nghĩ bàn, thưa Ngài, khó
thấy, khó hiểu, nếu Bồ tát tin tưởng tuyệt đối vào điều này thì
đã là thích hợp cho Phật vị, đã hoàn thành công việc của Jinas ở
bất kỳ thời gian nào, và đã liên tục trồng căn lành. Thưa Ngài, nếu
tất cả chúng sinh trong tam thiên đại thiên trong 1 kiếp hay phần còn
lại của kiếp mà đi trên con đường của người tin tưởng pháp; mặc khác
lại có người trong một ngày cảm thấy vui sướng kiên nhận thọ lãnh
Trí tuệ hoàn hảo thâm sâu này, tìm kiếm, suy nghĩ, cân đo, nghiên cứu
và thiền định trong điều này, thì người này mở ra sự biết, kiến
nhận và trí tuệ cho tất cả chúng sinh.
Phật: Nếu có người nghe được Trí tuệ hoàn hảo
này, thiền định, dụng công một cách vui thích, kiên nhẫn, tự kỷ luật
mình, phóng khoáng…thì người này sẽ đạt được sự nhận thức nhanh hơn
cả người đi trên giai đoạn của người tin tưởng pháp trong 1 kiếp, hay
những gì còn lại của 1 kiếp.
Chư thiên: Trí tuệ hoàn hảo thật là hoàn hảo!
Với những lời nói này, họ lạy ngang chân Phật, nhiễu bên phải 3
vòng, chào biệt Người, rồi lui đi. Trước khi đã đi xa, những người
này biến mất, và chư thiên cõi dục ra đi để trở về cõi dục, và chư
thiên cõi sắc đi đến trời cõi Brahma
Chương XIV
Ví dụ so sánh
Những sự tái sinh trong tương lai và quá khứ
Subhuti: Khi Bồ Tát, chỉ nghe qua điều này mà
tin tưởng ngay lập tức vào Trí tuệ hoàn hảo khó biết này, không sợ
sệt, vô tư, tê liệt hay u mê, không nghi ngờ và do dự, nhưng vui sướng
với Trí tuệ hoàn hảo- người này mất ở đâu, tái sinh ở đâu?
Phật: Khi Bồ Tát phản ứng theo Trí tuệ hoàn
hảo, vui sướng khi thấy và nghe, giữ trong trí và phát triển, nhất
tâm không nghĩ tới chuyện khác, cảm thấy muốn tiếp nhận, giữ trong
trí, nói, học, và lưu truyền, và khi được nghe Trí tuệ hoàn hảo rồi
thì người này đi theo người thuyết pháp, không rời bỏ người này, cho
đến khi nhận thức được Trí tuệ hoàn hảo này trong tâm hay có trong
cuốn sách, cũng giống như con bò không bỏ rơi con của nó-Bồ Tát này
ra đi giữa loài người và tái sinh ở cõi người.
Subhuti: Vậy Bồ Tát có những giá trị này thì,
cũng giống như được sinh ở đây, có tiến đến những cõi Phật không?
Phật: Bồ Tát có những giá trị này thì, cũng
giống như được sinh ở đây, có tiến đến những cõi Phật khác để tôn
thờ và đặt câu hỏi cho Phật. Người này cũng có thể đến cõi trời
Tushita (Đâu Suất). Người này cũng tôn thờ Ngài Di Lặc Bồ Tát, và
liên tiếp hỏi Ngài về Trí tuệ hoàn hảo.
Những hành động của Bồ Tát không trụ tại Trí
tuệ hoàn hảo
Mặc khác, cũng có Bồ Tát trong hiện tại hay
vị lai nghe được Trí tuệ hoàn hảo thâm sâu này nhưng không đặt câu
hỏi, và không nghe theo những câu trả lời nào, người này có thể được
sinh giữa loài người và được nghe Trí tuệ hoàn hảo này, nhưng lại do
dự, u mê hay sợ sệt, những người này không muốn đặt câu hỏi và lắng
nghe. Bất cứ Bồ Tát nào, cũng như vậy, không có thái độ đúng với
Trí tuệ hoàn hảo, trong 1, 2, 3, 4, hay 5 ngày, trong 1 thời gian thì
có niềm tin vào điều này, nhưng lại thoái lui và không muốn đặt câu
hỏi hay lắng nghe nữa. Sự thật là vị Bồ Tát này không hỏi, lắng
nghe hay theo đuổi Trí tuệ hoàn hảo thâm sâu này trong mọi thời gian,
mọi lúc, và vì vậy, trong 1 lúc nào đó cảm thấy muốn theo đuổi và
lắng nghe Trí tuệ hoàn hảo, nhưng những thời gian khác thì không;
những người như vậy bị mất niềm tin và bị ngã lòng, trí tuệ thì
không đều như là bông len. Những Bồ Tát này mới đi trên thừa, dễ mất
lòng tin, mất sự tin tưởng thanh bình và ham muốn Trí tuệ hoàn hảo.
Nói cách khác là người này không
tiếp nhận Trí tuệ hoàn hảo hay theo đuổi Trí tuệ hoàn hảo. Người
này dịch chuyển trong 2 cấp độ, Thanh Văn hay Duyên Giác
4 sự so sánh ví dụ
Một con thuyền bị kẹt lại giữa biển khơi, mọi
người chết vì không đến tới bờ được, trừ khi tìm được một mảnh
ván, gỗ hay vật thể nổi khác. Những người cố gắng tìm lấy sự hỗ
trợ thì không chết trong nước; chính vì điều này, người này qua đến
bờ bên kia an toàn và không thương tổn, đứng trên mặt đất cứng, không
bị hại. Cũng giống như vậy, Bồ Tát nào có ít lòng tin tưởng, ít
có sự tự tin thanh thản, ít thương mến, ít hoài bão, không được hỗ
trợ từ Trí tuệ hoàn hảo, thì rơi xuống con đường xấu, không đạt
được sự toàn giác, đứng trên thừa Thanh Văn và Duyên Giác
Bồ Tát có lòng tin tưởng thì khác, người này
kiên nhẫn chấp nhận, ham thích Trí tuệ hoàn hảo, tràn đầy hoài bão,
tinh tấn, cảnh giác, quyết tâm, ý định nghiêm túc, từ bỏ, chức vị
đáng được nể trọng, sự hăng say vui thích, tự tin thanh thản, yêu
thích Trí tuệ hoàn hảo, kiên trì đến với Bodhi, lấy Trí tuệ hoàn
hảo làm chỗ dựa; nhờ sự nhận thức Trí tuệ hoàn hảo mà người này
đứng trên sự toàn giác. Cũng như người dùng một bình không tốt để
đựng nước, chiếc bình này không tong tại lâu dài, nó mau chóng vỡ
thành từng mảnh và tan chảy. Vì không được nung nên chiếc bình này
mau chóng xuống đất
Cũng như vậy, mặc dù Bồ Tát đạt được những
giá trị như trên đã nói, từ lòng tin cho đến hoài bão kiên trì cho
Bodhi, nhưng nếu người này không nắm lấy Trí tuệ hoàn hảo và phương
tiện thiện xảo thì sẽ chắc chắn đi vào đường không tốt, người này
xuống cấp độ Thanh Văn hay Duyên Giác. Nhưng nếu có người đựng nước
lấy từ hồ, sông, vũng nước hay giếng, hay những nơi có nước dùng
bình đã được nung kỹ, bình như vầy, có nước ở trong, thì đến an
toàn tới nhà, đơn giản là nhờ bình này được nung kỹ. Cũng như vậy,
Bồ Tát nào không những có những thuộc tính như trên mà còn nắm được
Trí tuệ hoàn hảo và thiện xảo phương tiện, thì đang nửa đường đi
không bị gián đoạn, không bị thương tích, đứng trên sự toàn giác
Người nào không có nhiều trí tuệ thì xuống
nước bằng một con thuyền đi biển bị hư hỏng, không được sửa chữa, và
đã được dùng dây buộc lại trong một thời gian khá lâu, nặng trĩu đồ
đạc, và người này leo lên thuyền ra khơi. Chiếc thuyền này chắc chắn
sẽ lật trước khi đưa được đồ sang biển. Khi chiếc thuyền này bị bung
ra thì người lái buôn vô trí, không thiện xảo phương tiện này sẽ thất
thoát nhiều. Cũng như vậy Bồ Tát nào tuy có những thuộc tính như
trên mà không nắm được Trí tuệ hoàn hảo, thiện xảo phương tiện, không
biết được giá trị của toàn giác thì đang nửa đường đi bị gián
đoạn. Bồ Tát mất đi món lợi lớn của mình và người, mất đi sự toàn
giác chính là mất đi món lợi lớn; đây là không nói đến bị gián
đoạn rơi vào đường không tốt, xuống cấp độ Thanh Văn, Duyên Giác
Người lái buôn có trí thì làm một chiếc
thuyền chắc chắn, cẩn thận ra khơi, mang nhiều hành lý và phân bố
đều trên thuyền, và chỉ đi khi có gió thuận lợi, tới quốc gia đích
đến. Chiếc thuyền này không bị chìm giữa chừng, vì nó đi như nó đã
được chuẩn bị, người lái buôn này sẽ thu được nhiều châu báu quý.
Cũng như vậy, Bồ Tát có niềm tin tột bực, có những thuộc tính như
đã nói ở trên, lại nắm bắt được Trí tuệ hoàn hảo nhờ sự hoàn hảo
này, không mất thiện xảo phương tiện, những người này không rớt xuống
đường xấu, không bị ngã, đứng vững trên Bodhi như sự thể như vậy. Sự
thật là Bồ Tát có niềm tin tột bực, có những thuộc tính như đã
nói ở trên, lại nắm bắt được Trí tuệ hoàn hảo để phát triển các
pháp, không mất thiện xảo phương tiện, những người này không xuống
Thanh Văn hay Duyên Giác. Mặc khác những pháp này đối diện với toàn
giác, người này như vậy khởi hành, vì họ đã làm tan biến những
chướng ngại tới sự nhận thức Bodhi
Vậy nếu có người già cả, yếu ớt, 120 tuổi,
lại bị bệnh, vậy người này có thể đứng dậy khỏi giường mà không cần
người khác đỡ không?
Subhuti: Không thưa Ngài
Phật: Và khi người này đứng dậy khỏi giường
thì không có sức để đi nửa dặm. Vì tuổi già, lại bệnh nên người
này không thể đi lâu được, mặc dù người này có thể tự đứng khỏi
giường. Cũng như vậy, Bồ Tát đã có những thuộc tính như trên, nhưng
không ham thích Trí tuệ hoàn hảo, thiếu phương tiện thiện xảo, mặc
dù quyết định hướng đến Bodhi, nhưng sẽ ngã giữa đường, và phát sinh
những chướng ngại xuống cấp Thanh Văn hay Duyên Giác. Đây là hậu quả
không thể tránh được của người không hướng đến Trí tuệ hoàn hảo, qua
sự hoàn hảo của nó, không phương tiện thiện xảo. Và lúc này, giả
sử có 2 người khỏe mạnh nắm lấy người già yếu này, và nâng đỡ
người này dậy, và hứa sẽ đưa người này đi bất cứ đâu, vì họ giúp
đỡ người này, và người này không ngã trên con đường đến nơi mình
muốn. Cũng như vậy, Bồ Tát có niềm tin, vv và được hỗ trợ bởi Trí
tuệ hoàn hảo và thiện xảo phương tiện thì không gục ngã giữa đường,
và tiến đến được trạm Bodhi
Chương XV
Chư thiên
Những việc người mới bắt đầu cần làm
Subhuti: Làm thế nào để mà Bồ Tát mới đứng
trên Trí tuệ hoàn hảo có thể rèn luyện mình?
Phật: Những Bồ Tát như vậy thì yêu quý và
kính trọng thiện tri thức. Thiện tri thức là những người giáo hóa
Bồ Tát trong Trí tuệ hoàn hảo, và giải thích nghĩa cho họ. Người
đó nói như vầy: Thiện nam tử, nữ nhân, hãy đến đây, hãy cố gắng
thực hành theo 6 ba la mật. Hãy rộng lượng, giữ gìn đạo hạnh, nhẫn
nhục và tinh tấn, tập trung (thiền?) hay học Trí tuệ hoàn hảo- tất
cả được chuyển giao không vì lý do gì cả. Đây chính là bản tính của
sự thể như vậy…không thể nghĩ bàn, nắm lấy, Bodhi. Đừng nghĩ toàn
giác là hình tướng, hay các uẩn nào. Toàn giác thì không thể nắm
bắt được. Không ham muốn hay trụ lại bất cứ cấp độ nào, ví dụ như
Thanh Văn hay Duyên Giác.
Chính vì vậy, Subhuti, Bồ Tát nhờ những thiện
tri thức này mà tiến đến với Trí tuệ hoàn hảo, bằng sự hoàn hảo
không giới hạn và xuyên suốt
Làm sao mà Bồ Tát giúp đỡ chúng sinh
Subhuti: Bồ Tát hướng đến Bodhi tức là làm
những việc khó. Nhờ sự thức tập 6 ba la mật như trên đã nói, họ
không mong muốn đạt được Nirvana cho chính cá thể riêng mình. Bồ Tát
quan sát thế giới đầy đau khổ của chúng sinh. Họ mong muốn đạt được
Bodhi, nhưng vẫn không sợ sanh tử
Phật: Đúng như vậy. Bồ Tát hướng đến lợi ích
và niềm vui của thế giới vì lòng từ bi thì đang làm 1 việc khó
“Chúng tôi là chỗ trú ẩn cho thế giới, nơi an nghỉ, chỗ cứu trợ
hoàn toàn, hải đảo, ánh sáng và người dẫn đường cho thế giới.
Chúng tôi hỷ xả, tiết lộ Bodhi và nơi tiến đến cho những thế giới
này”. Với những lời nói này, họ tinh tấn nỗ lực đạt đến Bodhi
1 Làm thế nào mà Bồ Tát đạt được Bodhi và là
nơi che chở cho thế giới?
Họ đem ánh sáng của sự biết về bản tính của
khổ, và cũng như vậy, bảo vệ chúng sinh khỏi khổ ải, vốn thuộc về
uẩn thâm sâu của sinh tử. Những người này cũng cố gắng nỗ lực loại
bỏ khổ cho cả thế giới, từ nỗi đau tinh thần, cái đầu gối bị sưng
cho đến nghiêm trọng hơn như là nỗi đau sinh tử
2 Vậy những người này làm nơi trú uẩn cho thế
giới bằng cách nào?
Những người chịu khổ từ sinh, lão, bệnh, tử,
buồn lo, đau đớn, thất vọng thì họ giải thoát bằng cách nói cho họ
biết bản tính thật của những sự này, nói cho những người muốn biết
và muốn nghe
3 Vậy làm sao mà họ trở thành trụ cột của
thế giới?
Phật nói Pháp cho họ để họ biết không nên bám
víu vào gì cả
Subhuti: Làm sao để có được sự không bám víu
này?
Phật: Sự không bám víu này có được, hay chính
xác hơn, nhận biết được khi nói đến 5 uẩn, và cũng giống như bất kỳ
uẩn nào (pháp hay sự vật). Sự việc được tiết lộ chính là sự không
khởi dậy (vốn tự tính nó là vậy), sự không tồn trụ
(non-sustainability) vốn đồng nhât, từ đây không có sự sinh, cũng không
có sự kết thúc. Vì không có sự thể nào có thể được biết như là
sự khởi đầu, vậy làm sao có kết thúc? Việc này được chỉ ra và
nhận thức là cũng đúng cho tất cả các uẩn-được nhìn thấy, nghĩ
đến hay trải nghiệm như chỉ là suy nghĩ, ngôn từ hay hành động, vì
chúng chỉ chúng chỉ nói lên những gì được nghĩ (notion) là 5 uẩn
thực chất đã không được bám lấy. Những gì không tồn tại thì sự
thật là không thể được bám lấy. Người này biết không nên suy nghĩ hay
bám lấy bất cứ thứ gì vì (result of) sự suy nghĩ và cách nhìn nhận
này. Sự không bám víu thì đã được tự “thành lập” (established as of
itself) như là chính nó và sự tự tồn tại vượt thời gian (timelessly).
Khi đã được tiết lộ như vậy thì chúng ta biết được sự thể như vậy.
Tất cả các pháp thì không bám víu vì chúng không thể được bám lấy,
và chúng cũng không khởi, vì không có thuộc tính để mà thành một
sinh linh, và vì vậy trụ tại thời gian, không gian, và không còn tồn
tại.
4 Vậy làm sao mà những người này trở thành
cứu trợ của thế giới?
Tất cả những trạng thái của hình tướng thì
không phải hình tướng, mà là không có hình tướng (formless), và vì vậy vượt trên hình tướng, điều
này cũng đúng cho các uẩn còn lại., và tất cả các pháp
Subhuti: Nếu các uẩn và pháp (như là hiện
tượng nào đó) thì vượt trên hình tướng (appearance), vì vậy Bồ Tát
biết hào toàn tất cả các pháp, vì không có sự phân biệt của pháp.
Phật: Đúng vậy, chúng vượt trên hình thù, dạng
tướng, không có sự phân biệt. Vì không có sự phân biệt nên Bồ Tát
biết hết các pháp. Việc này rất khó nhưng lại không có dụng công,
vì Bồ Tát thiền, suy nghĩ về tất cả các Pháp trong cùng một lúc,
và không nhận biết, cũng không sợ. Và người này thiền như vầy: “Bằng
cách này mà biết được tất cả các pháp…và như vậy ta đạt đến Bodhi
và tiết lộ, diễn giải các Pháp”.
5 Vì sao họ là ốc đảo của thế giới?
Ốc đảo là đất được giới hạn bởi nước, ao hồ
hay sông cũng vậy. Hình tướng, vv cũng bị giới hạn bởi sự nhìn nhận
về sự khởi đầu và kết thúc, và các pháp cũng vậy. Sự giới hạn
này của tất cả pháp thì cũng giống như sự yên lặng thanh bình, sự
tuyệt vời, Nirvana, cũng giống với những gì thực sự tồn tại, không
chệch hướng, không phân biệt
6 Vậy làm sao mà họ trở thành ngọn đèn của
thế giới?
Bồ Tát nào đạt được Bodhi thì không thể không
tiết lộ ánh sáng và những kiến thức liên quan để xóa tan bóng tối
chướng ngại và bóng cấu bẩn-sự không biết của những người vốn bị
vô minh che lấp như màng của trứng, và bị bao phủ bởi bóng tối,
chính vì vậy mà họ khai sáng những người này nhờ trí tuệ của họ.
7 Vậy làm sao
mà họ trở thành người dẫn đường của thế giới?
Khi họ được Bodhi, Bồ Tát diễn Pháp để chỉ cho
ta biết sự không sản sinh và kết thúc chỉ là một trong số rất nhiều
bản tính của các 5 uẩn, và cũng là chính các pháp bao gồm và phân
biệt người thường, Thanh Văn cũng như Duyên Giác, Bồ Tát, Phật, thực
chất tất cả pháp nhưng không là pháp, nhưng bản tính cốt yếu thì
đồng nhất và cũng đồng nhất trong không gì cả (uniform in no thing).
8 Làm sao mà những người này là nơi thế giới
tiến đến để an nghỉ, điểm đến (resort)
Khi đạt được Bodhi thì Bồ Tát diễn nói pháp
bằng cách dạy rằng những uẩn này được trụ tại như một và giống
với không gian của thế giới. Tất cả các pháp tong tại trong sự cân
bằng và trao đổi, cũng giống như không gian. Nó không đi, không đến,
giống như không gian. Không gian không đi cũng không đến, không được tạo
ra hay không tạo ra, không bị tác động; không gian không khởi đứng dậy,
và như vậy không gian cũng không tồn tại lâu, hay trụ mãi (last, nor
endure); không được tạo thành hay dừng lại. Điều này cũng đúng với
các Pháp, vốn giống như không gian-không thể phân biệt. Chỉ với tâm
thức không được tinh khiết thì mới dấy lên ý nghĩ phân biệt…và đây
là cha của ảo tưởng (delusion), là mẹ của huyễn hóa, và từ đây sinh
ra mỗi thống khổ này.
Chỉ có tâm cực kỳ tinh chế để đến với sự
biết thuần khiết như không gian thì mới có suy nghĩ về sự tiết lộ
bản tính vượt lên trên sự vắng lặng và yên lặng đồng nhất. Vì chúng
được thấy như là không, không có ý tưởng nào đến từ thể trạng khách
quan hay sự đọc (perusal) chủ quan, không sinh ra từ đâu và hoàn toàn
tự phát. Nếu nói rằng chúng được sinh ra từ những vật thể cấu tạo
nên các ngôi sao thì không đúng với sự thể như vậy, nhưng nói lên một
hướng chung chung. Vì sự vắng lặng của các uẩn không đến cũng không
đi, sự vắng lặng của pháp cũng vậy, vì pháp được trụ (situated) như
cái không vắng lặng, và vì như vậy nên các pháp không đi. Chúng trụ
tại không dấu hiệu, không ước muốn, vắng lặng; như là không sản sinh,
không khởi dậy như là sự trống vắng của sự tương đối và 2 cực
(polarity), như tự thể và giấc mơ, như là vô biên, như sự yên lặng thanh
bình, như Nirvana, như sự bất hồi (unrecoverable); chúng không đến, không
đi, và trụ lại như bất động; trụ lại như hình tướng, vv…và cũng như
Bodhi của các vị A La hán và Duyên Giác.
Miêu tả Trí tuệ hoàn hảo
Subhuti: Vậy ai có thể hiểu được Trí tuệ hoàn
hảo?
Phật: Những Bồ Tát đi dưới (sự hỗ trợ của?)
Phật, và thành thục những thiện căn.
Subhuti: Vậy tự thể cá nhân thì những người
này nhìn nhận như thế nào?
Phật: Đối với họ, tự thể cá nhân thì tách
biệt khỏi sự cần kỷ luật-rèn luyện (need for discipline)
Subhuti: Bồ Tát như vậy thì biết hoàn toàn nơi
này, họ chỉ ra cho tất cả mọi người. Vậy điểm đến của chúng sinh
có nghĩa là như vậy chăng?
Phật: Đúng vậy, Subhuti, theo nghĩa này, Bồ Tát
biết được Bodhi thì là điểm đến cho tất cả mọi người.
Subhuti: Bồ Tát mặc áo giáp này thì đang làm
việc khó: “Tôi sẽ chỉ ra Nirvana cho vô số chúng sinh không thể tính
toán”
Phật: Áo giáp này của Bồ Tát thì không gắn
kết với các uẩn, mặc lên như vậy chỉ là để lợi cho các uẩn. Áo
giáp này không gắn kết với các cấp độ Thanh Văn, Duyên Giác, hay
Phật, hay mặc lên cho bản tính tự thể của mình. Áo giáp này của Bồ
Tát thì không gắn kết với bất cứ pháp nào.
Subhuti: Bồ Tát mặc áo giáp này và đi trên trí
tuệ vô biên thì không ham thích 3 điểm này. Thế nào là 3? Cấp độ
Thanh Văn, Duyên Giác hay Phật Đà.
Phật: Vì cớ gì mà ông nói như vậy? Việc này
là không thể, không có Bồ Tát nào thuộc thừa Thanh Văn hay Duyên Giác.
Nhưng vì người này mặc áo giáp để lợi ích cho mọi người, người này
thực sự muốn trở thành Phật.
Subhuti: Trí tuệ hoàn hảo thật khó nghĩ bàn,
thưa Ngài. Trí tuệ hoàn hảo không thể được phát triển (tạo?) bởi
bất cứ thứ gì, hay bất cứ ai, hay cũng không có ai hay thứ gì để mà
phát triển. Sự phát triển của Trí tuệ hoàn hảo thì như phát triển
không gian, hay tất cả các pháp, hay sự không gắn kết ràng buộc, sự
vô biên, không khởi, cũng không thể nắm bắt.
Phật: Đúng như ông nói, bất cứ Bồ Tát nào có
thể điều chỉnh tới sự không thể nghĩ bàn và Trí tuệ hoàn hảo thì
được xem như không thoái chuyển trước sự nhận biết. Bây giờ, vì Bồ
Tát như vậy không thể và không muốn trụ lại, an vị tại sự không thể
nghĩ bàn và Trí tuệ hoàn hảo, hay diễn nói khuyên nhủ người khác;
ta không thể bị dẫn dắt bởi (ý nghĩ?) “người khác”, là người mà ta
tin tưởng. Khi Trí tuệ hoàn hảo khó nghĩ bàn này được giảng dạy
thì không nên sợ hãi, vô tư, không quay lưng đi, không run sợ, không tỏ
vẻ sợ hãi, không nghi ngờ, không do dự, không bị u mê, choáng váng,
nhưng trái lại được thấm nhuần và bão hòa, ý định cương quyết, và
vui sướng khi được xuyên thấu bởi sự nghe và nhìn. Người này biết
rằng những kiếp trước đã tìm kiếm Trí tuệ hoàn hảo. Và khi bây giờ
được nghe Trí tuệ hoàn hảo, như sự hoàn hảo thực, thì người này
không run sợ, lo lắng hay hoảng hốt
Subhuti: Bằng cách nào mà Bồ Tát không sợ hãi
trước Trí tuệ hoàn hảo này khi được giảng giải có thể nhận thức
thấy Trí tuệ hoàn hảo?
Phật: Bồ Tát nhận thức Trí tuệ hoàn hảo nhờ
một chuỗi suy nghĩ hướng đến sự toàn giác. Đây chính là quá trình
của Trí tuệ hoàn hảo
Subhuti: Làm thế nào mà ta nhận biết được
những suy nghĩ như vậy?
Phật: Những chuỗi suy nghĩ chỉ ra không gian,
thiên về không gian và dần dần đạt được sự không vật thể như không
gian. Những nhìn nhận này được xem là một chuỗi suy nghĩ chỉ đến sự
biết hoàn toàn. Vì sao? Vì sự biết hoàn toàn thì vô tận và không
thể tính toán. Cái gì là vô tận, không thể tính toán…đây không phải
là hình tướng, hay bất kỳ uẩn nào. Đây không phải là sự đạt được,
không hội họp, không không đi đến đâu, không tới con đường nào hay quả
nào; không sự nhận thức nào, không ý thức, không khởi nguyên, không
phá hủy, không sản sinh, không ra đi, không dừng lại, không phát triển,
không diệt. Những sự như vậy thì không được tạo ra từ bất cứ gì,
cũng không đến từ đâu, không đi đến đâu, vì chúng không trụ tại một
điểm nào đó. Trái lại, chúng chỉ có thể được chỉ ra như là vô biên,
vô tận. Cũng như không gian vô tận thì hoàn toàn không thể đo lường,
đầy đủ và sự nhận biết vô tận. Đây là sự không thể đo lường vì
chúng không thể được biết đến nhờ bất cứ thứ gì, dù là hình tướng
hay tất cả các uẩn, hay 6 ba la mật. Hình tướng là sự toàn giác, và
các uẩn cũng vậy, ngay cả 5 ba la mật cũng vậy.
Lúc này, Sakra tiến đến và nói: Thưa Ngài, Trí
tuệ hoàn hảo thật là khó nghĩ bàn. Không thể thấy, biết hay hiểu
hoàn toàn. Suy nghĩ này của Phật mà (which) nhận biết sự thâm sâu
của pháp, ngồi trên bậc thềm Bodhi, đã nhận ra Bodhi, thì hướng tới
sự thảnh thơi vô hành động, không diễn tả các pháp.
Phật: Đúng như vậy, Pháp mà ta đã biết hoàn
toàn thì thực rất sâu. Không có gì trong quá khứ, vị lai hay hiện
tại mà có thể biết hoàn toàn, đây là sự thâm sâu của pháp này.
Pháp mà ta biết này thì không thể nghĩ bàn, cũng như độ sâu của không
gian, vượt trên sự sâu của cá thể (self), sự thâm sâu “tính không đến”
của các pháp, và sự “không đi”
Sakra: Thật tuyệt vời, thưa Ngài, đây thật đáng
ngạc nhiên. Thưa Phật! Pháp này đối lập với toàn thế giới, pháp này
dạy rằng ta không nên nắm bắt bất kỳ pháp nào cả, nhưng đây (sự nắm)
chính là điều mà thế giới thường hay làm.
Chương XVI
Sự thể như vậy
Phật- Sự thể như vậy
Subhuti: Pháp này được khởi hành như là sự
không quan sát của tất cả các pháp. Pháp này không bị ngăn trở ở
đâu. Pháp này thì đông với không
gian, trên cả những gì tối cùng vốn có đặc điểm là không ngăn trở,
vì không có dấu vết nào để nghĩ được là quá khứ, hiện tại hay vị
lai của các Pháp, vì pháp được chỉ ra bởi (những gì được miêu tả
chính xác nhất là) sự nhìn nhận khách quan hay hình thể bên ngoài.
Khi được suy nghĩ một cách thuần khiết và vô điều kiện thì pháp
(cũng như mọi hiện tượng) đều được biểu lộ là một “cái” gì đó, có
vẻ như là nó như vậy, nhưng không phải và không thể là thứ mà nó
trông có vẻ như vậy (what it seems). Không có pháp nào tồn tại như vậy
nhưng tất cả pháp thì như vậy. Đối với những gì có vẻ là ít nhất,
sự nhìn nhận sẽ bảo đảm như vậy (At what seems the very least,
perception will vouch for such)
Tuy vậy, ngay cả sự nhìn nhận thì đồng với
pháp bí ẩn này. Tất cả đều là
như nhau. Thế nên, những pháp như vậy, được suy tư trong pháp như
vậy (cognized in such) thì không thể được nghĩ là ngoài sự việc như
vậy. Bởi thế, đây không tồn tại vật tương ứng, như là sự vắng lặng
thuần khiết không có cái thứ 2, cũng không có cái thứ nhất để định
ra được cái thứ 2. Sự thể như vậy thì không thể tính toán, vượt trên
con số, không thể đo lường, thật sự vô tận…thuần là không vật gì cả
(no-thing). Đây không có đối thủ, vì sự thể như vậy thì không có bất
kỳ cái ngược lại. Sự thể như vầy thì xuất hiện không có dấu vết.
Ở đây không có nguyên do, thực sự là không có nguyên do để trở thành
như vậy. Đây không được sản sinh (giống như thường thì có người sản
sinh, hay làm điều gì đó để sản xuất), vì không có sự tái sinh từ
một thứ gì đó ngoài chính nó. Ở đây không có con đường, vì sự thật
là không có con đường nào tồn tại để biết được.
Sakra và chư thiên: Ngài đệ tử Subhuti quả thật
là hình bóng của Phật. Ngài được sinh ra như là sự phản chiếu của
Sự thể như vậy của Phật. Vì không đi hay không đến, vì vậy Subhuti,
sự thể như vậy không đi cũng không đến. Không có gì cả để hỗ trợ sự
bắt đầu nào, Trưởng giả Subhuti đơn giản là sự thể như vậy của
Phật. Sự thể như thật của Phật và Sự thể như thật của pháp thì
đều giống nhau…Cả 2 đều là sự thể như vậy và giống như Ngài Subhuti.
Chính hình ảnh này như Subhuti là Sự thể như vậy; vì vậy các Phật
cũng vậy
Mặc dù vậy, Sự thể như thật thì cũng không có
gì gọi là Sự thể như thật, vì thế nên từ đây sự vô ảnh của Sự thể
như thật của Subhuti xuất, (phát) ra. Chính theo nghĩa này mà Ngài
Subhuti phât r như là hình ảnh của Phật, đây là kết quả của sự trật
tự (order) của Sự thể như thật của Phật vốn không được thiết lập.
Sự thể như thật của Subhuti là sự bất biến, không phân biệt của Sự
thể như thật của Phật. Chính vì vậy, Subhuti, bất biển, không phân
biệt (undifferentiated), qua Sự thể như thật này thì chính là hình
ảnh của bất cứ và tất cả Phật.
Lại nữa, cũng như Sự thể như thật của Phật,
bất biến, không phân biệt, thì không bị ngăn trở ở bất cứ đâu, thế
nên Sự thể như thật của pháp thì cũng bất biến và không phân biệt.
Sự thể như thật của Phật và Sự thể như thật của pháp là Sự thể
như thật vô biên và không giới hạn, không phải 2, hay không phải là sự
phân chia từ một thứ gì đó. Như sự không hai (non dual) của Sự thể như
thật thì không có ở đâu, không từ nơi đâu, không thuộc về đâu. Nó thì
chính như nó. Sự thể như thật thì không thuộc về đâu, nó không có
tính lưỡng (It is as it is Suchness belonging nowhere it is non-dual) . Chính ở đây, từ sự không sản sinh của Sự thể như thật,
Ngài Subhuti phát ra ngay cả như là vô ảnh (non-image) của tất cả
Phật. Sự không sinh ra của Sự thể
như vậy thì không lúc nào không có sự thể như vậy và không lưỡng.
Chính là vì sự không có lý lẽ (cẩn thận!) này mà Ngài Subhuti phát
ra bất cứ và tất cả hình ảnh của “chủng“ Phật trên cả bất cứ và
tất cả hiện tượng. Vì sự thể thực của Phật thì không thể phân biệt
được, tại mọi thời gian và mọi pháp, nên sự thể như vậy của Ngài
Subhuti.
Chính vì vậy, mặc dù việc Ngài Subhuti được
làm hiện ra từ sự thể như vậy của Phật có vẻ như có tính đôi
(lưỡng), nhưng thật không có gì cắt ra từ Sự thể như vậy, vì nó
thật sự không bị ràng buộc như không gian, không có cả trung tâm hay
phương hướng, vẫn hoàn hảo và không bị sứt mẻ, vì ta không thể nắm
bắt được những cơ quan bên ngoài (có thật hay là ảo) mà có thể bẻ
gãy thứ như vậy. Trong nghĩa này thì chính Ngài Subhuti được thể
hiện như là ảnh của Phật
Vì Sự thể như vậy của Phật không thể khác hay
nằm ngoài Sự thể như vậy của bất cứ hay tất cả các Pháp, và Sự
thể như vậy của Subhuti cũng thế. Vậy bất cứ cái gì nằm ngoài, hay
có vẻ như nằm ngoài Sự thể như vậy của Pháp thì đây cũng là Sự thể
như vậy. Sự thể như vậy của Subhuti ở đây thì cũng giống Sự thể như
vậy của Pháp, Sự thể như vậy của Phật. Subhuti đã trải nghiệm được
Sự thể như vậy của tất cả Pháp. Subhuti được gọi là “phát ra được
qua Phật” vì Subhuti là hình ảnh được phát ra của Sự thể như vậy.
Cũng là nhờ và như Sự thể như vậy của Phật (không phải chỉ của
riêng Subhuti) mà Subhuti thích ứng với Sự thể như vậy. Cũng nhờ Sự
thể như vậy của Phật mà Subhuti thích ứng với Sự thể như vậy trong quá
khứ, và cũng nhờ Sự thể như vậy trong quá khứ mà Subhuti thích ứng
với Sự thể như vậy của Phật. Cũng như vậy đối với pháp trong hiện
tại hay quá khứ như là Sự thể như vậy. Chính nhờ Sự thể như vậy
của Phật mà ông thích ứng với những gì được biết đến như là quá
khứ, vị lai, hiện tại, chính nhờ Sự thể như vậy của quá khứ, vị
lai, hiện tại mà ông thích ứng với Sự thể như vậy của Phật. Để nói
rõ thêm thì Sự thể như vậy của Subhuti, Sự thể như vậy trong quá
khứ, vị lai, hiện tại và Sự thể như vậy của Phật thì không phải là
2, hay có những chia biệt như là quá khứ, vị lai, hiện tại. Sự thể
như vậy của bất cứ và tất cả các pháp và Sự thể như vậy của
Subhuti thì ở bất cứ ở đâu hay bất cứ cách nào đều là không phải 2,
cũng không có sự chia biệt. Và cũng vậy, Sự thể như vậy của Phật
khi Ngài còn là Bồ Tát thì cũng là Sự thể như vậy Phật khi Ngài
đạt được Bodhi. Và điều này cũng chính là Sự thể như vậy mà qua đó
bất kỳ Bồ Tát nào, khi đã chắc chắn đạt được Bodhi, được gọi là
Phật
Thế giới chấn động và nhiều người được giải
thoát.
Khi những lời đối thoại về Sự thể như vậy
được Phật diễn nói thì thế giới chấn động 6 cách, kích động, vang
dội, rung động khi Phật loại trừ những chướng ngại tới Bodhi
Subhuti: Chính như vậy, thưa các chư Thiên, Suhuti
đã được phát ra (emanate) như là hình vô sắc của Phật. Nhưng ông không
phát ra như là bóng hình của sắc (hình tướng), hay của các Thánh
quả nào, từ Dự Lưu đến Phật đà. Vì pháp nào trông có vẻ như được
sinh ra sau một hình ành của bất cứ gì, hay trong bất cứ hình ảnh
gì mà chúng trông như được sinh ra, thật sự thì không tồn tại, ta
cũng không thể tiến tới được, chính như vậy mà Subhuti hiện ra trong
hình ảnh của Phật.
Sariputra: Thưa Ngài, sự thể như vậy thì vượt
trên cả thâm sâu!
Phật: Đúng vậy, Sariputra.
Nhưng ngay khi lời đối thoại về sự thể như vậy
được nói đến thì tâm của 300 tăng được vo lậu (outflow), không còn
ràng buộc, 500 ni cũng được nhãn pháp thanh tịnh. 5000 chư thiên, trong
quá khứ đã chuẩn bị đầy đủ thì được vô sinh pháp nhẫn. Và tâm của
6000 Bồ Tát cũng không còn lậu, không còn ràng buộc
Trí tuệ hoàn hảo và phương tiện thiện xảo
Sariputra biết ý nghĩ của những Bồ Tát này
không còn lậu, không còn ràng buộc, và hỏi Phật lý do, nguyên nhân
của sự thể như vậy
Phật: Những Bồ Tát này đã hiến cúng tôn trọng
500 đức Phật, trong thời gian này họ cũng rộng rãi, kỷ luật, nhẫn
nhục, tinh tấn và tập trung (thiền?). Nhưng họ không có được Trí tuệ
hoàn hảo và phương tiện thiện xảo. Và vì vậy, tuy họ có được con
đường vắng lặng, đi trên sự vô dấu hiệu, nhiếp tâm vào vô ý muốn,
nhưng lại thiếu kỹ thuật để nhận ra giới hạn sự thật, và xuống cấp
độ Thanh Văn hay Duyên Giác, không đến được quả vị Phật đà. Ví dụ như
có con chim rất lớn, 100 cho đến 500 dặm, nhưng lại không có cánh, hay
cánh bị gãy. Con chim này muốn bay từ cõi trời 33 xuống Jambudvipa.
Nhưng giữa chừng thì nó muốn quay trở lại, vậy nó có làm được
không?
Sariputra: Không thưa Ngài
Phật: Vậy nó có thể nào xuống Jambudvipa mà
không thương tổn gì không?
Sariputra: Không thưa Ngài, nó chắc chắn sẽ bị
thương tổn, và khi rớt xuống nó sẽ đau đớn hay chết. Vì mặc dù thân
thể nó lớn, nhưng sức của cánh thì không có, nên nó rớt xuống
Phật: Cũng như vậy, Sariputra. Ngay cả Bồ Tát,
nếu khi đã phất tâm Bodhi, trong vô lượng kiếp hành 5 ba la mật, dù có
cố gắng thế nào và cũng suy nghĩ tới Bodhi-vì người này không thực
hành trí tuệ hoàn hảo, thiếu phương tiện thiện xảo, người này chắc
chắn rớt xuống cấp độ Thanh Văn hay Duyên Giác. Hơn thế nữa, Sariputra,
mặc dù Bồ Tát này có nhớ đến Phật hiện tại, quá khứ, vị lai, tự
kỷ luật, tập trung, trí tuệ, giải thoát, tầm nhìn và sự biết của
giải thoát- nhưng tất cả đều là dấu hiệu, dấu hiệu này là đối
tượng được chú ý, cơ sở của sự nhận biết, hay những lúc thâm nhập
định (entrancement). Người này không thấy biết sự rèn luyện của Phật,
cũng không biết về tập trung, trí tuệ, giải thoát, tầm nhìn và sự
biết của giải thoát của Phật. Vì không biết, không thấy nên khi nghe
đến từ “vắng lặng”, thì xem nó như một dấu hiệu, và ước muốn
chuyển giao công đức này thành Bodhi (họ nghĩ là cũng vắng lặng). Vì
lý do này mà họ chỉ ở cấp độ Thanh Văn hay Duyên Giác- sự thật là
người này không có trí tuệ hoàn hảo, và cũng thiếu phương tiện
thiện xảo, cả hai thứ đều nhỏ hơn tiếng thì thầm, là một cơn gió
nhẹ từ không gian cung cấp sự chỉ dẫn bẩm sinh.
Sariputra: Theo như con được hiểu về ý nghĩa của
điều Phật dạy thì mặc dù Bồ Tát có công đức lớn, nhưng không thực
hành trí tuệ hoàn hảo và không có phương tiện thiện xảo thì người
này không gặp được thiện tri thức và không chắc chắn đạt được Bodhi.
Bồ Tát muốn chỉ cho tự mình và người khác Bodhi thì trước hết phải
phát triển trí tuệ hoàn hảo này, như là phương tiện thiện xảo.
Phật: Đúng như ông nói, Sariputra
Sakra và chư thiên: trí tuệ hoàn hảo thật khó
nghĩ bàn! Khó đạt được, thật khó có được Bodhi
Phật: Đúng như vậy, chư Thiên. Trí tuệ hoàn hảo
này rất sâu. Khó đạt được, rất khó để đạt được Bodhi, nếu người
này có trí tuệ yếu kém, không chuyên tâm và nỗ lực, không khéo phương
tiện, và hầu cận ác tri thức
Bodhi và sự vắng lặng
Subhuti: Vì sao mà Phật nói Bodhi thì khó biết,
rất khó để công nhận, vì ở đây không có ai được Bodhi? Như sự phát ra
của sự vắng lặng thì toàn là pháp, không có pháp nào tồn tại mà
có thể đạt được Bodhi. Tất cả các pháp thì đều vắng lặng. Để từ
bỏ pháp là mục tiêu mà pháp này tuyên nói (This dharma
for the forsaking of which dharma is demonstrated), pháp này
không tồn tại. Những pháp có khả năng là sẽ được Bodhi, có thể đạt
được (could have been enlightened), và nhận thức, và nhận thức được như
vậy- tất cả các pháp này đều là vắng lặng. Theo như vậy thì con
nghĩ Bodhi là dễ có được, không khó.
Phật: Bodhi là khó đạt được vì nó không thể
xảy ra, khó đạt, khó nắm, khó với tới, vì sự thực thì Bodhi không
ở đây, vì nó không thể được phân biệt hay phỏng đoán như là một cơ
sở hay một sự tối hậu, vì Bodhi không được chế tạo (fabricated).
Sariputra: Vì nó là vắng lặng, là không, nên
khó đạt được, Subhuti. Không gian không nghĩ rằng mình sẽ đạt Bodhi.
Chính vì vậy, ví dụ như, vì không có sự tự thể cá nhân nên bất cứ
và tất cả các pháp đều đạt được Bodhi. Tất cả các pháp là như
không gian. Và nữa, Subhuti, nếu Bodhi dễ đạt được như vậy thì vô số
Bồ Tát đã không thoái chuyển. Vì có vô số Bồ Tát bị thoái chuyển
nên ta biết rằng Bodhi thì khó có được, khó nắm được
Subhuti: Nhưng, Sariputra, 5 uẩn có thoái chuyển
Bodhi không?
Sariputra: Không, Subhuti
Subhuti: Vậy pháp bị thoái chuyển Bodhi có khác
5 uẩn không?
Sariputra: Không, Subhuti
Subhuti: Vậy sự thể như vậy của 5 uẩn có thoái
chuyển không?
Sariputra: Không, Subhuti
Subhuti: Vậy pháp thoái chuyển Bodhi có khác sự
thể như vậy của 5 uẩn không?
Subhuti: Vậy 5 uẩn có biết được Bodhi không?
Sariputra: Không, Subhuti
Subhuti: Vậy pháp biết được Bodhi có khác 5 uẩn
không?
Sariputra: Không, Subhuti
Subhuti: Vậy sự thể như vậy của 5 uẩn có biết
được Bodhi không?
Sariputra: Không, Subhuti
Subhuti: Pháp biết được Bodhi có khác sự thể
như vậy của 5 uẩn không?
Sariputra: Không, Subhuti
Subhuti: Vậy 5 uẩn có được nhận biết khi ở
Bodhi (be known in full enlightenment), hay pháp nào khác 5 uẩn, hay sự
thể như vậy của 5 uẩn, hay pháp nào khác sự thể như vậy của uẩn?
Sariputra: Không, Subhuti
Subhuti: Vậy sự thể như vậy có thoái chuyển
Bodhi không?
Sariputra: Không, Subhuti
Subhuti: Vậy pháp thoái chuyển Bodhi có ở trong
sự-thể-như-vậy không?
Sariputra: Không, Subhuti
Subhuti: Vậy, Sariputra, pháp thoái chuyển Bodhi
là gì, khi chúng ta xem xét điều này như là sự trụ tại bản tính
của pháp, vốn là vắng lặng, và cũng vậy như là cách ta không trụ
tại bất kỳ pháp nào? Sự thể như vậy là pháp gì? Vậy có lè nào
sự thể như vậy lại thoái chuyển chăng?
Sariputra: Không, Subhuti
Subhuti: Như sự thật tuyệt đối và như sự việc
trụ tại đây thì không có pháp nào được nắm bắt là thật, vậy pháp
thoái chuyển Bodhi là pháp gì?
Sariputra: Khi người này nhìn nhận pháp như là
sự thật tuyệt đối, điều mà Subhuti đã nói đến trong cuộc đối thoại
này. Thực sự thì không có pháp nào thoái chuyển Bodhi. Nhưng Subhuti,
ở đây không có cơ sở để mà phân biệt những người phát tâm Bodhi thành
3 loại, khác nhau bởi thừa mà họ đã chọn, như được nói tới bởi
Phật. Theo những lời nói của Subhuti thì chỉ có 1 thừa chính là Bồ
tát thừa, thừa vĩ đại
Purna: Đầu tiên Ngài Sariputra phải hỏi Ngài
Subhuti rằng ông có thừa nhận rằng chỉ có 1 chủng loại chúng sinh
phát tâm Bodhi, và người này dùng thừa Thanh Văn, Duyên Giác hay Bồ
Tát
Sariputra: Subhuti, ông có thừa nhận rằng chỉ có
1 chủng loại chúng sinh phát tâm Bodhi, và người này dùng thừa Thanh
Văn, Duyên Giác hay Bồ Tát
Subhuti: Sariputra, ông có thấy người nào phát
tâm Bodhi là sự thể như vậy của sự thể như vậy (see as
Suchness of Suchness even one single being), bất luận
là Thanh Văn, Duyên Giác hay Bồ Tát?
Sariputra: Không, Subhuti. Sự thể như vậy thì
không thể được xem như là 3 loại, huống gì người phát tâm Bodhi.
Subhuti: Vậy sự thể như vậy (suchness) có được
xem như là 1 loại không?
Sariputra: Không, Subhuti
Subhuti: Vậy ông có thấy trong sự thể như vậy 1
pháp nào bao hàm 1 chúng sinh phát tâm Bodhi chăng?
Sariputra: Không, Subhuti
Subhuti: Vì thế sự thật và đúng như sự thật
thì pháp nào bao gồm chúng sinh nào phát tâm Bodhi thì không thể nắm
bắt được, ông lấy ý nghĩ “người này thuộc Thanh Văn thừa, người kia
Duyên Giác và người nữa là Bồ Tát thừa” từ đâu? Bất cứ Bồ Tát nào
nghe được sự vắng lặng của điểm khác biệt, sự phân biệt hay phân hóa
của 3 loại người phát tâm Bodhi, và khi chúng ta còn được bao hàm
trong “sự thể như vậy” thì, và không sợ sệt hay vô tư, không thoái
chuyển, ta biết những người này tiến đến Bodhi
Phật: Nói đúng lắm, Subhuti. Nhờ thần lực và
gia trì của Phật mà ông có cảm hứng nói lên điều này
Sariputra: Vậy những Bồ Tát như vậy thì đi đến
Bodhi nào?
Phật: Họ đi đến Bodhi Vô thượng, khó đạt được
Những yêu cầu để được đạt đến Bodhi
Subhuti: Bồ Tát cần phải hành xử, rèn luyện
thế nào, khi người này muốn tiến đến và nhận biết Bodhi?
Phật: Bồ tát đối xử bình đẳng với mọi người,
tâm thức thì bình lặng, thương yêu hỷ xả mọi người, không đối xử không
bình đẳng đối với chúng sinh, nhưng là tâm thân thiện, dễ mến, có
ích, không giận, tránh gây hại, xem mọi người như cha mẹ con cái của
mình. Bồ Tát đối với mọi người thì phụng sự như là nơi trú ẩn cho
họ, làm lợi mọi người, và rèn luyện như vậy, vì Bồ Tát muốn đạt
được Bodhi. Bồ Tát tránh việc ác, cũng thường bố thí, giữ kỷ luật,
nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, đạt được trí tuệ hoàn hảo, quan
sát sự cùng sản sinh (co-production) có điều kiện, theo thứ tự xuôi
và ngược; và họ cũng khuyến khích người khác làm như vậy. Người
này giữ vững lập trường, từ thiền định, suy nghĩ về những sự thật
này cho đến mức đạt được điều chắc chắn. Bồ Tát như vầy được giải
thoát khỏi cấu bẩn và vòng luân hồi, và làm những chúng sinh khác
trưởng thành, khuyến khích họ làm theo như vậy, chỉ giáo họ. Khi
người này mong chờ một cách háo hức những sự thể như vầy và rèn
luyện đúng như vậy, thì mọi thứ được tiết lộ cho người này, không
bị che lấp, từ hình tướng cho đến thứ tự được thiết lập của pháp.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét